vendredi 6 avril 2012

TỔNG HỢP

THÔNG TIN VỀ CUỘC GẶP MẶT TOÀN THỂ K16 KHOA PHÁP
(Lần thứ nhất, tại Hà Nội, ngày 01-4-2012)

Chủ nhật, ngày 1 tháng 4 năm 2012, K16 Khoa Pháp (1982-1987) đã tổ chức buổi gặp mặt lần thứ nhất kỷ niệm 30 năm ngày nhập trường và 25 năm ra trường.
Buổi gặp mặt diễn ra tại Văn phòng Khoa Pháp, nơi tất cả các thành viên đã từng có 5 năm sống và học tập cùng nhau. Với chủ đề giản đơn là Về nguồn. Gần đủ số thành viên của K16 về tham gia và 2 người bạn yêu quý K16 đến dự.
Nội dung gồm 3 phần, phần thứ nhất (trong hội trường): Tất cả các thành viên gặp gỡ, trao đổi tự do cá nhân, ôn lại những kỷ niệm xưa bằng những câu chuyện kể qua ảnh, qua clip ở hai giai đoạn chính có tên gọi Miền ký ứcKhi chúng ta đã lớn. Sau đó cứ tự động từng cá nhân tự giới thiệu những đổi thay sau 25 năm ra trường. Sau phần giới thiệu cá nhân là thảo luận tập thể. Tất cả các thành viên thảo luận và thống nhất thành lập một hội, tên gọi là
HỘI K16 KHOA PHÁP. Hội viên bao gồm tất cả các bạn đã từng học đủ, hay không đủ 5 năm từ 1982-1987 của K16 khoa Pháp. Hội đã bầu ra một Hội trưởng (ở Hà Nội, nơi có thành viên đông nhất) và 2 Hội phó (1 đại diện các tỉnh phía Bắc, 1 đại diện các tỉnh phía Nam) ; Định kỳ 2 năm tổ chức 1 lần và thảo luận thống nhất nhiều nội dung chi tiết có tính nguyên tắc và quy định của Hội.

Phần thứ hai (ngoài hội trường - không gian khu giảng đường khoa Pháp), tham quan lớp học cũ, thăm lại những dấu tích xưa : gốc cây, ghế đá, hồ nước trong khuôn viên khu giảng đường Khoa Pháp và chụp nhiều ảnh kỷ niệm.

Phần thứ ba, liên hoan thân mật tại nhà Hàng Hải Long và vui hát tập thể gần nơi họp.
Lúc 15 giờ, cuộc gặp mặt kết thúc, mọi người chia tay, ai đó đã nói với tôi rằng nếu không có buổi đón tiếp đoàn ở xa và gặp trước tối qua thì chắc sáng nay, không họp và thảo luận được gì hơn, chỉ đùa vui, ôn lại chuyện cũ của thời sinh viên khốn khó. Nghĩ thật vui !
Cuộc gặp mặt "lịch sử" của K16 lần này thực sự cảm động ! Có nhiều người đúng sau 25 năm mới gặp nhau, nhiều người cũng mới chỉ là dịp đầu tiên trở lại thăm Khoa Pháp. Cuộc hội ngộ này thực sự đã để lại nhiều ấn tượng trong lòng mỗi người !

Sau gần một tuần gặp mặt, cuộc hội ngộ của K16 vẫn còn dư âm và bao xúc cảm từ các tỉnh thành gửi về:

- Bạn Lý từ Quảng Ninh tâm sự với một bạn hơn tuổi:
Mardi 3 avril 2012 20h36 – "… Đến hôm nay em vẫn còn đau họng đây. Cười nhiều quá anh ạ. Về đến nhà em cứ ngắm và so sánh những tấm ảnh ngày xưa và ảnh 2012 mà cười thôi. Cái thời xưa của anh em mình khốn khó quá nhưng mà vui anh nhỉ ? Cảm ơn mọi người đã tổ chức cuộc vui tuyệt với như thế !
Thực sự qua cuộc gặp này, em thấy K16 chúng mình sống tình cảm. Em thấy rất cảm động. Ở khách sạn, bọn em cũng nói nhiều về mọi người. Nói chung mọi người rất phấn khởi và mong có những cuộc gặp tiếp theo. Merci, merci, merci beaucoup…"
- Bạn Đoàn Ngọc Thạch từ Nam Định viêt:
Jeudi 5 avril 2012 16h55: "Chào đại gia đình K16, đọc mail của các bạn mình cũng không thể rịn bộc lộ... Niềm vui, sự cảm động từ trái tim mỗi chúng ta đã làm được điều kì diệu: chúng ta đã có được những giây phút tuyệt vời bên nhau, hiểu nhau hơn, chia sẻ nhiều hơn... mặc dù chưa nói được hết. Chúng ta đã chứng kiến sự thay đổi kì diệu so với thủa hàn vi và đã để lại cho nhau nhiều nỗi nhớ. Mình tin kỉ niệm đẹp này sẽ sưởi ấm mỗi chúng ta để rồi cuộc gặp sau sẽ có nhiều điều ấn tượng nữa... Tuy khách sáo song Thạch vẫn muốn nói lời cám ơn Ban tổ chức để chúng ta có một Hội K16 tuyệt vời !"
- Bạn Minh Thắng ở Hà Đông viết:
Jeudi 5 avril 2012 9h16: "… Tớ rất vui và mong sớm được gặp lại các bạn. Mặc dù còn nhiều vất vả lo toan nhưng bên nhau thấy ấm áp, hồn nhiên quên hết mọi ưu phiền…"
- Bạch Dương (Hà Nội) kiệm lời viết:
Jeudi 5 avril 2012 9h16: "… Mình cũng rất vui và mong ngày gặp lại các bạn…"
- Bạn Nguyễn Ngọc Dũng từ Paris viết:
Vendredi 6 avril 2012 19h50: "Xin chào tất cả các bạn K16, từ xa nhìn các bạn hối hả chuẩn bị gặp nhau, rồi gặp nhau hội hè vui vẻ làm cho mình cũng nao nao trong lòng. Mình chỉ dám tưởng tượng ra một cuộc hội ngộ tràn đầy những kỷ niệm và hồi ức đẹp nhất của một thời sinh viên vô tư, sôi nổi  và đó là đẹp nhất. Thật tiếc mình không có mặt giữa các bạn vào dịp này ! Sau vài ngày xem ảnh cũ, mới, những hồi ức về những ngày xưa, cách đây ba chục năm rồi còn gì, lại ùa về tá lả. Lạ là mình nhớ cái ngày nhập học đầu tiên ở  B4, ngoại trừ cái đội chuyên ngữ, chúng biết nhau từ trước còn lại ai cũng nhìn nhau có vẻ thăm dò nhau làm quen; nhớ những buổi đi lao động vác đất đào hồ, mệt chết cha mà vẫn cứ vui như xây nhà cho mình, rồi nhớ đến những buổi văn nghệ khoa dù chẳng biết hát hò gì mà vẫn cứ tự hào về đội "spice girl -1" K16... nhớ quán xá nội trú, nhớ những đêm trực Tết, canh mái nhà lá cho các bạn nội trú nhưng lại rút mái nhà xuống đốt để sưởi... Nhiều lắm nói ra lại lộn xộn không chịu sắp xếp, hy vọng sẽ còn có dịp để gặp các bạn."
"Tant pis, mes souvenirs parmi vous demeurent intacts et tout frais. Vous qui me manquez énormément, je pense toujours à vous en espérant avoir d'autres occasions de vous voire de vive voix"
"J'aimerais partager avec vous le tube  La Place des Grands hommes de Patrick Bruel évoquant une retrouvaille émouvante entre des anciens amis -  http://musikaraoke.skyblog.com
A bientot, 
Un ami qui vient de loin"
Cả những người học không cùng khoá cũng dõi theo ngay từ đầu nhen nhóm ý tưởng gặp mặt. Anh Trịnh Đức Thái, một trong những người bạn yêu quý K16, và là Trưởng Khoa Pháp hiện nay đã chứng kiến từ đầu đến cuối cuộc hội ngộ này đánh giá:
Lundi 2 avril 2012 9h13: "… Hôm qua, Khoá 16 đã về họp mặt trong khuôn viên của Khoa. Cuộc gặp gỡ đã diễn ra hết sức cảm động. Những video clip quay những kỷ niệm xưa, những cuốn Album, những lời chia sẻ tâm sự đã nói kết được họ từ các tỉnh thành... Khoa Pháp chúng ta rất mong được đón tiếp các khóa sinh viên về họp tại khoa, được ghi nhận như một chuyến về nguồn trong hàng loạt các hoạt động khác chào mừng Khoa Pháp tròn 50 tuổi".
Bạn Hà Tiến Cường (Hà Nội), K39 viết:
Feb 8, 2012 09:33 PM: "Em xin chào các anh các chị cựu SV K16... Em là Hà Tiến Cường, cựu sv K39 của khoa Pháp Lần họp khoa tháng 11 vừa rồi, em rất vui được trở về khoa, gặp lại các thầy cô, gặp mặt các anh chị khóa trước. Nếu không có những dịp như thế này, chắc những thế hệ đi sau như bọn em không thể nào được biết và biết được các anh chị khóa trước. Nhìn ảnh các anh chị họp mặt, em thực sự bất ngờ và khâm phục bởi vì đã nhiều năm trôi qua mà còn tập hợp lại được một K16 như vậy, quả là đáng quý! … cho phép em gửi tới các anh các chị lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và thành công. Hẹn gặp lại các anh chị trong Lễ kỷ niệm 50 năm thành lập khoa sắp tới !"
"Ai đó đã thật có lý khi nói "Thời gian sẽ là thước đo giá trị cho tình bạn - tình yêu - hạnh phúc"; 30 năm - một chặng đường đủ dài để mỗi người trong chúng ta nhận ra sự trân trọng trong mỗi ánh mắt, cử chỉ, nụ cười - ngày ấy và bây giờ... Chúc các anh chị sẽ có một buổi gặp mặt vui vẻ và ý nghĩa !"
Bạn Nguyễn Thanh Hải, K16 khoa Anh từ T.P Hồ Chí Minh viết cho các bạn thân và các bạn cùng học khoa Anh của mình:
Jeudi 5 avril 2012 10h55 "Dear all my friends ! Các cậu click vào đường link dưới đây xem Khoa Pháp K16 vừa họp mặt ở Hà Nội đó. Tất cả mọi người ở đâu cũng về hết… Còn gì đẹp bằng gặp lại bạn cũ thời phổ thông và học đại học nhỉ cái tuổi hồn nhiên và vô tư nhất đó. Hay là các bạn nghĩ cách chúng mình tụ họp cả 3 khoa Anh, Pháp, Nga K16 gặp nhau đi, quen nhau hết ấy mà. Thời đó, khoa Anh, Pháp thì học cùng buổi sáng rồi. Hết giờ, tan học, Anh, Pháp đạp xe về là khoa Nga tới gặp nhau, nhìn nhau quen nhau hết ấy mà. Gặp nhau ở đâu cũng được, ở trong này hay ngoài Hà Nội cũng được…"
….
Trên đây là những thông tin chính thức của Hội K16 Khoa Pháp và những giòng tâm sự, những cảm nhận không chỉ của những người trong cuộc mà còn cả những người ngoài cuộc. K16 khoa Pháp mong nhận được nhiều điều tâm sự và chia sẻ ở phần "commentaire" ngay sát dưới trang viết này.
Bancu-truongxua xin cảm ơn tất cả những lời hay, ý đẹp giành cho K16 khoa Pháp chúng tôi.

Hà Nội, ngày 6 tháng 4 năm 2012
 (Bài và ảnh của Báo điện tử Bancu-truongxua và Ban Liên lạc K16 khoa Pháp)

mardi 27 mars 2012

TẤM BIỂU TRƯNG CHÍNH THỨC THỨC CỦA K16 (1982-1987) KHOA PHÁP

Biểu trưng (logo) chính thức của K16 (1982-1987) Khoa Pháp

Báo Bancu-truongxua trân trọng đăng biểu trưng chính thức (logo) của K16 Khoa Pháp và một phông treo trang nhã, khiêm tốn với những lời hay, ý đẹp thể hiện hết tâm nguyện được gặp nhau tại Khoa Pháp, nơi cùng nhau học tập sau 25 năm ra trường.
Từ nay, tấm biểu trưng này sẽ là hình ảnh đẹp gắn liền với mọi hoạt động, mọi thông điệp của K16 Khoa Pháp. Bất cứ ở đâu có biểu trưng này là ở đó có K16 Khoa Pháp. Và ở đâu có K16 Khoa Pháp thì tấm biểu trưng này cũng rất đáng tự hào đăng lên đại diện cho K16 Khoa Pháp.
Biểu trưng này là tượng thân của K16 khoa Pháp chúng ta.

27-3-2012
Bancu-truongxua

lundi 12 mars 2012

THÔNG BÁO NỘI DUNG CUỘC HỌP LẦN HAI CHUẨN BỊ KỶ NIỆM 50 NĂM NGÀY THÀNH LẬP KHOA PHÁP

Ngày 12 tháng 02 năm 2012, tại Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Pháp đã diễn ra cuộc họp lần thứ hai chuẩn bị cho lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Khoa. Tham dự buổi họp có sự góp mặt của Ban chủ nhiệm Khoa, đại diện sinh viên một số khóa, công đoàn khoa, hội cựu giáo chức… Sau khi thảo luận và thống nhất các ý kiến trao đổi, Ban tổ chức đã tạm kết luận một số nội dung quan trọng. Bancu-Truongxua K16 khoa Pháp xin đăng toàn văn thông báo nội dung cuộc họp của Trưởng khoa Pháp Trịnh Đức Thái.
Kính gửi các thầy cô, anh chị cựu sinh viên cùng toàn thể cán bộ sinh viên trong Khoa,
Ngày 12 tháng 02 năm 2012, tại Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Pháp đã diễn ra cuộc họp lần thứ hai chuẩn bị cho lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Khoa. Tham dự buổi họp có sự góp mặt của Ban chủ nhiệm Khoa, đại diện sinh viên một số khóa, công đoàn khoa, hội cựu giáo chức… Sau khi thảo luận và thống nhất các ý kiến trao đổi, Ban tổ chức đã tạm kết luận một số nội dung quan trọng sau đây:
1. Thời gian tổ chức (đã quyết định): 17, 18 tháng 11 năm 2012. Cụ thể:
* Tối 17 (Hoạt động của Khoa): Chương trình văn nghệ, giao lưu của sinh viên hiện đang học tập tại khoa và các cựu sinh viên khóa trước ( Nội dung: Chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi về cơ hội việc làm), cắm trại.
* Ngày 18 : Lễ kỉ niệm 50 năm ngày thành lập Khoa NN và VH Pháp.
2. Địa điểm tổ chức: Khuôn viên khoa NN& VH Pháp (Căn cứ tình hình thời tiết để lựa chọn các khu vực)
3.       Mục tiêu:
- Tạo cơ hội cho các thầy cô, các bạn cựu sinh viên các khóa gặp gỡ, giao lưu, tri ân công ơn các thầy cô trong Khoa.
- Nâng cao vị thế của Khoa trong cộng đồng Pháp ngữ và trong xã hội.
- Ghi nhận, trân trọng những đóng góp của các thế hệ chuyên gia trong nước và nước ngoài đã từng đóng góp và làm việc tại khoa.
4.       Phân công nhiệm vụ:
* Ban tổ chức:
- Trưởng ban:         Thầy Trịnh Đức Thái
-  Phó ban :            Thầy Đinh Hồng Vân (Phụ trách tài chính)
Hỗ trợ: Anh Tuyển K22
* Nguồn kinh phí: đóng góp của các khóa sinh viên, các tổ chức, cá nhân đã từng học tập, làm việc, cộng tác với Khoa.
* In ấn: Anh Đỗ Ngọc Bình (giấy mời, kỷ yếu, túi đựng quà …)
* Ban Kỉ yếu (Tiêu đề tham khảo: “Kí ức 50 năm ấy”).
Thầy Trịnh Đức Thái trưởng khoa sẽ phụ trách chính
Các thành viên : Anh Nguyễn Trường K16, Thầy Trần Hùng, thầy  Bùi văn Từ, thầy Đinh Việt Bình
* Trang web: Anh Tuyển K22 phụ trách thiết kế trang web, duy trì hoạt động của trang web trong vòng 5 năm. Sau thời gian gửi demo trang web, ban Chủ nhiệm chịu trách nhiệm phát động viết bài và biên tập các bài viết.
Hình thức tuyên truyền gợi ý thêm: Mạng xã hội,…
* Viết kịch bản (cho hoạt động ngày 18): Anh Lâm Đài truyền hình. (ngày 25/03/2012 sẽ duyệt kịch bản)

+ Làm phóng sự : Anh Lâm Đài truyền hình
* Triển lãm: Anh Huy
Đề nghị mỗi khối nộp 1 ảnh (bản mềm), khuyến khích ảnh cổ
Ảnh sau buổi triển lãm sẽ được trưng bày tại phòng truyền thống của khoa (BCN khoa xem xét bố trí phòng)
Đầu mối phụ trách liê n lạc và làm việc với các khóa sinh viên (tập hợp địa chỉ liên hệ, thông báo, vận động tài chính, thu thập ảnh, bài viết…)
10 khóa đầu: Thầy Nguyễn Lân Trung
K11 đến K15: Thầy Đào Đức Nhân
K15 đến K20: Anh Nguyễn Trường
K21 đến K25: Chị Nga K22
K26 đến K30: Cô Đỗ Thủy
K31 đến K35: Thầy Bùi  Anh Ngọc  Ngọc
K36 đến K 40: Cô Lan Anh
K41 đến K46: Tú Linh K43
5. Cuộc họp lần tới:
* Thời gian: 9 h00 Chủ nhật, ngày 25 tháng 3 năm 2012
* Địa điểm: Phòng Hội thảo Khoa - Nhà C3 khu công trình Khoa Pháp.
* Nội dung dự kiến:
- Thông qua kịch bản chương trình buổi lễ
- Duyệt demo trang web,
- Duyệt nội dung kỷ yếu
- Dự trù kinh phí.
* Thành phần tham dự: Đại diện của các Khóa học, BCH Công đoàn Khoa, Chi đoàn giáo viên, Hội sinh viên Khoa …
Cuộc họp kết thúc lúc 11h00.

Xin nhờ các thày cô làm đầu mối cho các nhóm khoá thông báo đến các đại diện bố trí thời gian đi dụ họp đông đủ v ào ngày 25 tháng 3.

dimanche 4 mars 2012

Chúc mừng ngày Phụ nữ Việt Nam 8-3


Chúc Một nửa của thế giới mãi mãi xinh tươi như những bông hồng
đẹp lung linh như ngọn đèn hồng để giữ cho mọi gia đình chúng ta luôn đầm ấm và hạnh phúc !

Nhân ngày phụ nữ Việt Nam 8-3,
Bancu - truongxua xin chúc các bà, các mẹ, các bà vợ yêu quý và các cô giáo, các bạn gái K16 khoa Pháp Luôn luôn trẻ khoẻ, xinh đẹphạnh phúc !

Bancu - truongxua K16 khoa Pháp
(Bạn nhớ click vào hình để chiêm ngưởng tấm ảnh đẹp)

Lỗi hẹn ngày gặp mặt

Các bạn thân mến,

Ngày 26 tháng 2 năm 2012, ngày lỗi Hẹn gặp mặt đã nhẹ nhàng qua đi và để lại cho K16 chúng ta một ý nghĩa khác thật to lớn. Nó thực sự vẫn là ngày đẹp chứng kiến tình bạn hữu thắm thiết hơn của các bạn trai qua chuyến đi Nam Định về quê bạn Đoàn Ngọc Thạch. Ở đó NVT và TQH đại diện cả khoá đã chia sẻ với bạn Thạch và gia đình, đồng thời cũng gửi lời thăm hỏi và những cảm thông của nhiều bạn đồng khoá.
Thật là thoải mái khi chúng ta cùng tạm gác cuộc vui này để làm nên một việc thiết thực và ý nghĩa to lớn khác ! Và, chúng ta chủ động lỗi hẹn hôm nay để hẹn một ngày sau thuận lợi hơn, đông hơn và vui trọn vẹn hơn thì đó cũng là điều nên làm mà tất cả chúng ta cùng mong đợi. Có người nói vui rằng: "Có lỗi hẹn như thế mới thấy rõ hơn được sự háo hức, sự nóng lòng chờ đợi ngày vui gặp mặt của chúng ta như thế nào".

Song, ngày lỗi hẹn ấy xem như thử lòng mỗi chúng ta, cũng chẳng ai muốn nóng lòng chờ đợi lâu hơn nữa. Bancu – truongxua đã thăm dò rộng rãi và lấy ý kiến thống nhất chọn Chủ nhật, ngày 01 tháng 4 năm 2012 là ngày gặp mặt của chúng ta. Ngày này rất đẹp và rất thuận lợi vì:
- Thứ bảy, ngày 31 tháng 3 năm 2012 tức là ngày 10 tháng 3 âm lịch, ngày Giỗ tổ Hùng Vương. Ngày này, chúng ta được nghỉ làm việc và sẽ được nghỉ bù vào thứ hai sau đó. Như vậy chúng ta sẽ được nghỉ 3 ngày liền và chủ nhật họp lớp là ngày nghỉ ở giữa, rất hay và rất tiện cho các bạn ở xa Hà Nội (Click vào lịch dưới đây để xem)
- Sau chủ nhật, ngày 1/4 họp lớp, đến thứ tư, ngày 4/4 là ngày Thanh minh cũng đúng với ý nguyện kết hợp từ Sài Gòn ra Hà Nội của các bạn Thanh Hương, Thuý Hằng và của nhiều bạn khác muốn đi hành lễ truyền thống Tiết Thanh minh.
Lịch họp lớp liên hệ tháng 3-4/2012

Bancu – truongxua tin rằng ngày họp mặt lần này hội đủ các yếu tố "Thiên thời – địa lợi – nhân hoà" chắc chắn sẽ làm nên một cuộc gặp mặt ý nghĩa - vui vẻ - đầm ấm.
Bancu – truongxua chúc các bạn vui vẻ, nhiều thành công và sớm gặp bạn !

Bancu – truongxua K16 khoa Pháp

dimanche 22 janvier 2012

CHÚC MỪNG XUÂN NHÂM THÌN - 2012

Thiệp chúc xuân tặng bạn

Năm Tân Mão vừa hết và năm Nhâm Thìn bắt đầu vừa tới, nhân lúc giao thừa, giờ tí đầu xuân, đón mừng nguyên đán, Xuân Trường vẫn lấy tục khai bút đầu xuân xin gửi những lời hay ý đẹp nhất từ đáy lòng mình tới bạn cùng gia đình.
Xin chúc bạn cùng toàn thể gia đình MẠNH KHOẺ - AN KHANG – TRÀN ĐẦY HẠNH PHÚC VÀ THÀNH CÔNG !

Nguyễn Văn Trường

CHÚC MỪNG XUÂN NHÂM THÌN - 2012

Các bạn thân mến,
Năm Tân Mão, năm của còn vật được bao gia đình Việt nuôi trong nhà, được các thế hệ từ già đến trẻ rất yêu quý. Tân Mão đã làm thoả lòng mong ước cho muôn gia đình Việt chúng ta, cho đất nước Việt Nam nhiều vận hội mới, và Tân Mão cũng đã mang đến cho cả tập thể K16 khoa Pháp chúng ta một cơ hội mới. Thật tuyệt vời !

Thời khắc giao thừa giữa năm Tân Mão và năm Nhâm Thìn chẳng còn mấy mươi phút nữa.

Năm Nhâm Thìn, năm của con vật linh thiêng, luôn là biểu tượng cho sức mạnh, quyền uy và cao quý sắp đến.
K16 khoa Pháp chúng ta hãy cùng nhau vui chúc một năm mới đầy tin vui và nhiều thắng lợi.

K16 khoa Pháp chúng ta cầu mong Nhâm Thìn sẽ mang đến cho muôn gia đình Việt và cả đại gia đình K16 khoa Pháp Sức khoẻ - An Khang - Hạnh phúc, Gia đình ấm êm, cháu con đỗ đạt !

Bancu - Truongxua



(Các bạn Clik vào hình để xem hình động)

vendredi 20 janvier 2012

TOÀN QUYỀN ĐÔNG DƯƠNG PAUL DOUMER VỚI VIỆC XÂY CẦU LONG BIÊN VÀ MỘT VÀI CÂY CẦU


Nhân số Xuân Nhâm Thìn - 2012, Tạp chí Xưa và Nay của Hội KHoa học Lịch sử đăng bài do tôi dịch. Tôi xin đăng lên để các bạn cùng đọc cho vui và hiểu thêm về cây cầu Long Biên Lịch sử mà trong chúng ta ai cũng có vài ba lần đi qua.

Cầu Long Biên, một cây cầu bằng thép bắc qua sông Hồng năm 1898 là một trong những cây cầu lớn nhất thế giới lúc bấy giờ. Nó không chỉ thể hiện sức mạnh về kinh tế mà nó còn là niềm kiêu hãnh về khoa học kỹ thuật hiện đại của người Pháp trên toàn cõi Đông Dương. Dưới thời Pháp thuộc cầu Long Biên còn có tên gọi là cầu Doumer, tên của viên Toàn quyền Đông Dương (Paul Doumer) có nhiệm kỳ tại Đông Dương đúng bằng thời gian xây dựng cầu (1897-1902).
Sang năm 2012, cây cầu này cũng bước sang tuổi thứ 110. Hơn một thế kỷ tồn tại, Cầu Long Biên có nửa số tuổi phục vụ hiệu quả cho công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp ở Đông Dương, và nửa số tuổi còn lại cầu Long Biên tồn tại như một huyết mạch giao thông nối liền thủ đô Hà Nội với các tỉnh phía Bắc và Đông Bắc của Việt Nam, nó đã đóng một vai trò không nhỏ trong công cuộc xây dựng đất nước và phát triển kinh tế của Việt Nam. Tuy nhiên vẫn còn nhều con số và thực tế liên quan đến cây cầu thế kỷ này khiến nhiều người quan tâm.
Để góp phần tìm hiều lịch sử cây cầu này, Nguyễn Văn Trường, Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp tại Hà Nội trích dịch từ cuốn hồi ký Đông Dương thuộc Pháp của Paul Doumer, in tại Paris, nhà xuất bản Vuibert & Nony, năm 1930 lấy tiêu đề: Toàn quyền Đông dương Paul Doumer về việc xây cầu Long Biên và một vài cây cầu ở Đông Dương.

Tác giả: Paul Doumer toàn quyền Đông Dương (1898-1902)
Nguyễn Văn Trường trích dịch từ cuốn Đông Dương thuộc Pháp, hồi ký của Paul Doumer,
in lần thứ 2 tại Paris, nhà xuất bản Vuibert & Nony, năm 1930.

[...]
Có một việc cần thiết phải làm ngay đối với tôi. Đó là xây một cây cầu lớn bắc qua Sông Hồng, phía chính diện Hà Nội. Con sông lớn này nằm ngang, rộng 1700 mét phân chia thành phố với các tỉnh bên tả ngạn. Lòng sông thường bị tắc ngẽn vì những bãi nổi bồi lên nhanh và lở đi cũng rất nhanh chóng theo dòng nước. Người bản xứ vượt qua sông này rất khó khăn, tốn kém, đôi khi rất nguy hiểm. Hai bên bờ sông, những điểm cập bến thay đổi theo mùa, thường xa đường giao thông và đường phố nên từ đó ra bờ sông khá vất vả. Đường sắt từ Lạng Sơn về Hà Nội cũng được xây dựng vào thời kỳ này, nhưng không có cầu nên tàu phải phải dừng lại ở bên kia bờ sông phía tả ngạn, cách sông Hồng ba cây số do dó rất xa thành phố Hà Nội, nơi đáng lẽ phải là điểm tận cùng của tuyến đường sắt này. Trong những điều kiện như vậy, việc giao thông thường là chậm, không thuận tiện và chi phí tương đối cao. Hơn nữa ý tưởng của tôi định xây dựng ở Bắc kỳ nhiều tuyến đường sắt quy tụ về Hà Nội và cũng từ Hà Nội có đường đi biển, đường đi Trung kỳ và đường đi Trung Quốc nhưng tôi không thể hình dung hệ thống đường sắt lại bị Sông Hồng phân đôi hai nửa.
Cầu Long Biên mùa nước cạn đầu thế kỷ

Như vậy lợi ích của việc xây cầu ở Hà Nội là rất rõ, không còn nghi ngại gì nhưng khả năng có làm được công trình này không, và có làm thì phải kéo theo một khoản tiền kếch sù, điều đó lại thật đáng nghi ngại. Những kẻ hoài nghi và chống đối ở cả Hà Nội và Paris có khá nhiều. Tôi phải vượt qua khó khăn là một khi việc nghiên cứu tiền khả thi đã xong thì phải đưa ra đấu thầu, và khởi công công trình là vì yếu tố con người, hay là vì yếu tố vật chất. Việc này phải được cân nhắc vì có những chỉ trích, những dèm pha ngay trong những công ty xây dựng mới hình thành, nhưng tôi không sợ những lẽ đó, không sợ thất bại và không nản chí. Với ý chí kiên trì và quyết tâm của tôi, cuối cùng cũng làm giảm đi nhanh chóng những ý tưởng chống đối .
Và rồi cuộc đấu thầu làm cầu Hà Nội mở ra năm 1897, có sự hiện diện của nhiều nhà xây dựng của Pháp. Dự án của nhà thầu Daydé và Pillé ở Creil (thành phố Oise) trúng thầu. Viên đá đầu tiên được đặt trong lễ khởi công công trình bắt đầu vào mùa khô - tháng chín năm 1898.
Đó không phải là một công trình tầm thường làm cho xong mà cây cầu Hà Nội đáng được dư luận thế giới chú ý vừa do tầm quan trọng của công trình, vừa do những khó khăn phải vượt qua. Dự án được thông qua và đề ra là phải thi công hoàn hảo, không chậm tiến độ và không được để xảy ra sự cố hay tai nạn. Gồm một cầu kim loại đặt trên những trụ và mố cầu xây. Chiều dài của cầu giữa hai mố cầu xây ở hai bên bờ là 1680 mét, gồm 19 nhịp vững chắc được tạo nên bằng những rầm thép kiểu rầm chìa, hai mươi trụ chống được xây, tất cả mố cầu và cột trụ có chân trụ chôn sâu ba mươi mét xuống lòng đất rắn tính từ mực nước thấp nhất của dòng sông Hồng, và cao hơn mực nước này mười ba mét rưỡi. Như vậy tổng chiều cao của các mố và trụ là bốn mươi ba mét rưỡi (43m50). Phần giữa cầu dọc theo các sườn chính là dành đường cho tàu hỏa chạy, phần đường bộ là phần nhô ra hai bên. Trên bờ hữu ngạn, phía trong thành phố Hà Nội, cầu được kéo dài bằng cầu cạn xây bằng gạch, dài tám trăm mét (800m), kể cả cầu cạn cầu Hà Nội có tổng chiều dài là hai nghìn năm trăm mét.
Đây là một trong những cây cầu lớn nhất thế giới, một công trình vĩ đại và đáng chú ý nhất cho tới nay được thi công ở Viễn Đông.
Đó là công trình của các kỹ sư, chuyên gia, đốc công cùng công nhân người Pháp và nhân công An Nam, nó làm nên vinh quang cho người lao động An Nam, các kỹ sư và kỹ thuật viên người Pháp. Quả đúng như thế, nhờ vào kết quả lao động của người thợ châu Á, nhiều người An Nam và có một số ít người Trung Quốc phụ giúp đã xây nên các mố, trụ cầu để một cây cầu bằng thép được dựng lên. Một phần của công trình được xây nên với vô vàn khó khăn chưa từng có ở một xứ như Bắc Kỳ, khí hậu khắc nghiệt, thời tiết đổi thay bất thường. Một phần công trình được tạo nên với các trụ đỡ bằng đá, mố ở hai bên bờ và các trụ ở các vị trí khác nhau trên mặt sông, móng cầu được những người thợ làm việc trong điều kiện phải dùng thùng khí nén, dưới độ sâu trung bình ba mươi hai mét tính từ mực nước thấp nhất trong mùa khô.
Cầu Long Biên đầu thế kỷ
Khi tôi đặt viên đá đầu tiên cho cây cầu Hà Nội vào tháng chín năm 1898, mố cầu bên tả ngạn đã được xếp bằng một phần đá thẳng hàng với các phần đá khác có cắm cờ, đánh dấu những vị trí xây trụ. Trong số người Pháp đến dự lễ khởi công hôm ấy, từ tướng Bichot, tổng tư lệnh quân đội và Đô đốc Beaumont, Tư lệnh hạm đội đến người lính thường; từ kỹ sư trưởng ngành cầu đường đến các giám sát viên công trình, rất nhiều người hoài nghi, không tin là công trình đồ sộ này có thể thực hiện được. Còn người bản xứ, khi được biết về dự án xây cầu, họ coi đây là một hành vi điên rồ - Bắc cầu qua sông Hồng ư ? - Sao rồ dại thế nhỉ ? chẳng khác nào chất núi này lên núi khác để leo lên trời. Một con sông rộng như một eo biển, sâu trên hai chục mét, vào mùa lũ (mùa mưa), mặt nước còn dâng lên cao tám mét nữa, dòng sông thì hay di chuyển, chỗ này bồi đắp, chỗ kía xói lở - một con sông như thế, sao có thể trị được ? Sao có thể chế ngự được mà bên trên lại xây cầu đặt trên những trụ đá xuyên sâu xuống nước ? Sao có thể chống chọi được với làn sóng hung dữ ?
Các vị quan lại dù có tư tưởng thông thoáng nhất, tinh thần cởi mở nhất cũng nghi ngờ quyết định táo bạo của chúng tôi. Họ nói:
 - Các ngài định chăng một dây cáp từ bờ bên này sang bờ bên kia để hướng dẫn tàu bè qua lại ?
- Không, chúng tôi định xây một cây cầu bằng thép và bằng đá bắc qua sông.
- Mặt sông quá rộng, cầu khó mà đứng vững được.
- Chúng tôi sẽ đỡ cầu bằng các trụ xây.
- Sông quá sâu để xây trụ.
- Chúng tôi có thể xây từ độ rất sâu.
 Cầu Doumer mua nước lũ chụp từ máy bay
Các vị quan lại lo lắng hỏi:
- Các ngài làm thật vậy sao ? Các ngài không sợ nếu chẳng may công trình thất bại sẽ gây ảnh hưởng xấu như thế nào với dân chúng ?
Chúng tôi trấn an họ, chúng tôi hứa công trình nhất định sẽ thành công, bằng cách nêu lên các phương tiện thi công rất hùng hậu.
Họ lại kêu lên:
- Không thể làm được ! và hạ giọng nói nhỏ đó là một việc hết sức rồ dại.
Mấy tháng sau, chỉ đến lúc thấy các trụ cầu nhô lên khỏi mặt nước, các nhịp cầu bằng thép bắt đầu được xây lắp các vị quan hoài nghi ấy mới chịu thán phục. Họ nói :
- Thật là kỳ diệu! người Pháp có thể làm mọi thứ họ muốn.
Câu nói này lan truyền trong dân chúng. Người Pháp nhất định là mạnh, là thông thái hơn người ta tưởng. Từ lâu người ta chỉ biết những gì mà người Pháp đã làm trong chiến tranh. Bây giờ người ta mới thấy người Pháp làm những điều không kém hơn trong sự nghiệp hòa bình. Họ đã chứng tỏ họ mạnh trong việc phá, nay người ta lại thấy họ cũng mạnh không kém trong việc xây.
Người ta liên tục tò mò hỏi những người thợ của công ty xây dựng vì thấy họ làm việc phải thở tự do trong các thùng ép hơi kín bằng sắt như trên một con tàu, xây được đến đâu thùng kín chìm sâu dần dưới nước đến đó, rồi làm việc thở bằng khí nén trong thùng ép hơi kín để đào đất dưới lòng sông, rồi chôn phần đã xây sâu xuống nước. Và các thùng hơi kín mít ấy cứ chìm mỗi ngày mỗi sâu xuống dưới nước. Các thùng ép hơi đã ở độ sâu hai mươi mét dưới mặt nước, phải chịu áp lực hai át-mốt-phe, rồi sâu xuống hai mươi nhăm mét, ba mươi mét, áp lực rất lớn đã lên tới ba át-mốt-phe, rồi sâu thêm nữa đến ba mươi mốt, ba mươi hai mét, đôi khi ba mươi ba mét, ở độ sâu này điều kiện làm việc cực kỳ nặng nhọc. Những người thợ An Nam thân hình bé nhỏ song làm việc ở độ sâu như thế mà không sợ, không một lời phản kháng. Họ tự hào về điều đó, khi họ được kéo lên bờ, dân chúng xúm quanh tỏ lời thán phục, đồng thời cũng thèm thuồng đồng lương rất cao của họ kiếm được. Nhà thầu cầu tổ chức và chỉ đạo thi công hết sức tốt, biết chăm sóc chu đáo công nhân, làm họ gắn bó với công ty. Các kíp thợ làm việc trong điều kiện thở bằng mặt nạ chỉ làm việc bốn tiếng một ca. Sau đó họ được đưa lên cạn để kíp khác xuống thay thế. Khi lên cạn, họ được đưa vào lều nghỉ ngơi, được bồi dưỡng thuốc bổ, được xoa bóp và có bác sĩ đến thăm khám sức khỏe nếu cần. Cách đối xử ân cần như thế thật quá sức tưởng tượng càng tăng thêm uy tín cho nhà thầu. Nhân công lao động đua nhau kéo đến để nộp đơn xin được tuyển dụng vào làm việc xây cầu.
Công việc xây dựng cây cầu Hà Nôi được tiến hành với những phương tiện hện đại, những cố gắng không ngừng đáng được ghi nhận. Các hàng trụ cầu hoàn thành đến đâu, những rầm thép được đưa từ Pháp về kịp thời đến đấy và được lắp ráp ngay. Người ta trông thấy cây cầu tiến dần từng ngày trên sông. Lại chính những người bản xứ đã ghép những tấm kim loại, vận hành máy nâng có công suất lớn, tra các đinh tán (ri-vê). Ban đầu, người ta dùng nhân công Trung Quốc để tán đinh vì họ khoẻ hơn người An Nam, nhưng dần dần người An Nam đã thay thế họ. Tuy người An Nam không khỏe bằng người Trung Quốc nhưng họ tích cực và khéo léo hơn nên có hiệu suất cao hơn. Các kỹ sư Pháp ưa thích người thợ An Nam hơn.
Sau ba năm khởi công, cây cầu khổng lồ đã hoàn thành. Nhìn gần, bộ sườn cầu bằng thép trông thật vĩ đại. Chiều dài của cây cầu tưởng như vô tận. Nhưng từ dưới sông nhìn lên cây cầu trong bức tranh toàn cảnh tổng thể thì nó chỉ như một cái lưới mắt cáo thanh thoát, một dải đăng-ten giăng giữa trời. Dải đăng-ten bằng thép ấy đáng giá một món tiền nhỏ là sáu triệu phờ-răng (francs).
Việc xây dựng cầu Hà Nội, người ta đã có nhã ý lấy tên tôi để đặt cho cầu, điều ấy muốn nhấn mạnh vào trí tưởng tượng của người dân bản xứ. Những cách thức làm việc sáng tạo và tài giỏi được sử dụng, những kết quả thu được đã làm họ có ý thức về sức mạnh hào hiệp của nền văn minh Pháp. Điều tài tình của khoa học kỹ thuật, sức mạnh công nghiệp của chúng ta bây giờ đã chinh phục tinh thần dân chúng ở xứ này thay vì trước đây chúng ta phải quy phục họ bằng tiếng súng.
Tôi đã khánh thành cầu Hà Nội, cây cầu Doumer với tên của tôi được đặt vào tháng 2 năm 1902, cùng lúc với đoạn đầu tiên của hệ thống đường sắt Đông Dương. Từ đây tuyến đường sắt Hải Phòng – Hà Nội, nối thủ đô với biển đã được đưa vào khai thác. Chuyến tàu đầu tiên đã đi vào thành phố, tàu qua cầu và đã vươt trên 100 km đường sắt để chính thức khai trương tuyến đường. Và cũng chính tuyến đường này đưa tôi trở về Pháp sau khi kết thúc nhiệm kỳ của tôi ở Đông Dương.
Paul Doumer Toàn quyền Đông Dương (1898-1902)
Tôi rất hài lòng được thấy xứ Bắc Kỳ 5 năm trước còn nghèo khó, run sợ, nhút nhát, nay đã biến đổi như thay da đổi thịt thành một miền đất có hòa bình, giàu hơn. Hà Nội đã trở thành một thủ đô to lớn và xinh đẹp với những tượng đài, những tòa nhà theo phong cách châu Âu đã và đang mọc lên từng ngày với một nhịp độ phát triển phi thường. Bản thân người An Nam hình như không chịu đứng ngoài cuộc, tham gia cuộc chơi đến cùng. Nhà gạch của người An Nam mọc lên san sát, ngày một nhiều trên các đường phố. Trong khoảng thời gian từ 1898 đến 1902, trên toàn xứ Bắc Kỳ, đặc biệt là Hà Nội, đâu đâu cũng hoạt động miệt mài, không mệt mỏi trên tất cả các mặt của đời sống. Dân số thành phố tăng nhanh: từ ba chục nghìn dân năm 1897, đến năm 1902 ước tính có một trăm hai mươi nghìn dân. Số kiều dân Pháp sống ở Hà Nội đã tăng lên với một tỷ lệ ít nhất cũng bằng nhịp độ tăng số dân thành phố.
Trong một đất nước như Ấn Độ-China (Đông Dương), nơi có nhiều con sông lớn, nhỏ chảy qua, thì số lượng và tầm quan trọng của những cây cầu phải xây dựng là rất lớn. Đó chính là nguyên nhân khiến chi phí cho việc xây dựng các tuyến đường sắt ở các vùng châu thổ tăng cao. Đây là khoản chi lớn nhất về xây dựng đường bộ vốn không đòi hỏi nhiều nỗ lực và hy sinh của những người thợ đào đất như người An Nam và đường bộ hoàn toàn không phải là những công trình nghệ thuật.
Trong cùng thời gian quyết định xây dựng cầu Hà Nội vào năm 1897, tôi cũng quyết định xây môt cây cầu khác có kich thước nhỏ hơn nhưng có công dụng lớn trên sông Huế. Trên chiếc cầu này không có phần dành cho đường sắt, nối thành phố nơi đông đúc người bản xứ Huế, Thành nội, Hoàng cung và các cơ quan hành chính An Nam, tất cả bên tả ngạn với thành phố khu có người Pháp ở và nối với con đường đi Đà Nẵng (Tourane) bên hữu ngạn sông Huế. Bởi lẽ từ năm 1897, ở Huế đã lập thành phố Pháp, nhìn bên ngoài rất đẹp và đang không ngừng mở rộng. Một vài toà nhà rải rác mà tôi đã nhìn thấy lúc tôi rời tàu biển lên đất liền để đến Huế lần đầu tiên đã khuất trong nhiều công trình xây dựng. Chiếc cầu trên sông Huế đã góp phần đem lại sinh khí cho thủ đô của An Nam.

Cầu Tràng Tiền bắc qua Sông Hương (Huế)
Đương nhiên cầu Huế được xây dựng nhanh hơn cầu Hà Nội. Cầu chỉ dài 400 mét, độ sâu của móng trụ không quá 20 mét và chỉ chịu được trọng tải của các xe ô-tô và người đi bộ. Chính là công ty Creusot của Pháp đã thầu thi công cây cầu này.
Chúng tôi đã khánh thành cây cầu vào năm 1900. Cây cầu này được mang tên là cầu Thành Thái tên của nhà vua đã cắt dải băng tượng trưng để cho dân chúng dễ dàng qua lại. Việc làm này thực sự đã đem lại niềm vui cho người An Nam sinh sống ở đây.
Năm 1897 cũng diễn ra cuộc đấu thầu một công trình lớn khác. Đó là xây thêm cây cầu thứ ba, bắc qua sông Sài Gòn mở một đường bộ từ Sài Gòn đi Biên Hoà và có cả phần đường dành cho xe điện. Việc xây dựng đường sắt nối Nam Kỳ với Trung Kỳ đã làm thay đổi kế hoạch ban đầu, phải gia cố công trình cầu Sài Gòn, tăng sức chịu lực của cầu cho đường sắt và tàu hỏa qua cầu. Mặc dù những khó khăn ngoài dự kiến trong việc đào hố trôn trụ cầu, có vài trụ phải chôn sâu tới 31 mét kể từ mực nước thấp nhất của dòng sông. Cây cầu được gọi là cầu Bình Lợi, do công ty Levallois-Perret trúng thầu xây dựng đã làm xong và khánh thành vào tháng 2 năm 1902 trước khi hoàn thành tuyến đường sắt qua sông trên chiếc cầu đó. Cầu Bình Lợi gồm 6 nhịp kim loại, trong đó có một nhịp dài 40 mét có thể quay ngang để tàu thủy qua lại được.
Một đầu cầu Sài Gòn (ảnh: Bộ Lưu trữ Hải ngoại)
Có lẽ bạn đọc sẽ thấy nhàm chán nếu tôi kể ra tất cả các công trình thuộc loại này được thực hiện ở Đông Dương từ 1897 đến 1902. Đối với thuộc địa, đó là thời đại của sắt thép, thời đại của cầu. Ngoài những cây cầu xây cho đường bộ, hệ thống đường sắt còn đòi hỏi phải có hàng trăm cầu nữa, trong số đó có một vài cầu cần được đặc biệt chú ý. Ở Bắc Kỳ, cầu Hải Phòng, cầu Hải Dương, cầu Việt Trì, cầu Lào Cai xứng đáng được nêu tên.
H.1
H.1-2 - Cầu Hàm Rồng bắc qua sôn Mã, tỉnh Thanh Hoá, Trung kỳ
Ở Trung Kỳ có cầu Thanh Hóa, cũng như cầu lớn Hà Nội và nhìều cầu khác ở Đông Dương đều do công ty Daydé và Pillé thi công. Cầu Thanh Hóa chỉ gồm một nhịp vòm, sải dài 160 mét bắc qua sông ở chỗ rất hẹp, lòng sông rất sâu không cho phép đào hố chôn trụ đỡ. Việc lao rầm đã phải tiến hành ở thế chênh vênh trong những điều kiện đặc biệt khó khăn và nguy hiểm.
Bìa Tạp chí Xưa và Nay số Xuân 2012

NVT

vendredi 30 décembre 2011

CHÚC MỪNG NĂM MỚI - 2012

Nhân dịp năm mới 2012, Bancu-truongxua xin chúc các bạn và gia đình
MẠNH KHOẺ VÀ AN KHANG THỊNH VƯỢNG !


Nguyễn Văn Trường xin gửi tới các bạn đồng khoá lời chúc
Một năm mới VUI VẺ - MẠNH KHOẺ - HẠNH PHÚCNHIỀU THÀNH CÔNG !

Bancu-truongxua
31-12-2011


vendredi 23 décembre 2011

NGẮM PARIS VỀ ĐÊM

Click vào Đây để xem (muốn xem hình to hơn ấn nút F11)

jeudi 15 décembre 2011

GẶP MẶT LẦN HAI TẠI HÀ NỘI


Sau khi ý tưởng "Họp mặt toàn thể K16 khoa Pháp" của chúng ta được khởi xướng ở nhà Bích Hằng hôm 29-10 và Thư hẹn ngày gặp mặt được đăng trên báo Bancu-Truongxua, chúng tôi nhận được rất nhiều tin nhắn qua e-mail, điện thoại tỏ ý tán đồng và nóng lòng chờ đợi ngày vui gặp mặt ấy. Rất nhiều bạn còn mong ngày đó đến sớm hơn. Bạn Lý từ Hạ Long đề nghị nên gặp nhau từ chiều và tối hôm trước. Bạn Hạnh (Hưng Yên), bạn Thạch (Năm Định) cũng nói đang cố gắng sắp xếp để đến ngày đó không vì lý do gì mà không lên gặp nhau.
Nhóm 10 người đang công tác và sinh sống tại Hà Nội cũng với một quyết tâm rất cao là đã hẹn nhau họp ở nhà Bạch Dương hôm chủ nhật ngày 11 tháng 12 vừa qua, từ 10giờ 30 đến hơn 15 giờ.
Trong gần 5 tiếng đồng hồ gặp nhau, cả nhóm đã "ôn cố tri tân", nói chuyện rôm rả, rất nhiều lần trưởng nhóm (Trường tự xưng chưa ai bầu, ha, ha !!) phải ra vẻ nghiêm chỉnh lắm mới kéo được mọi người đi đúng "quỹ đạo" cuộc họp. Tại đây cả nhóm đã đưa ra nhiều ý tưởng, bàn thảo nội dung và chương trình cho buổi gặp mặt chính của chúng ta[1]. Tất cả đều háo hức mong đợi đến ngày đó. Phương Lan có vẻ lo xa và sợ bỏ lỡ cơ hội này nên thật lòng nói: "Anh T. phải thông báo hay viết rằng đây là cơ hội hiếm có 25 năm mới gặp lại nhau, chứ trăm lần hỏi thăm, không bằng một lần thấy đâu". Phương Lan lại nói: "Chúng ta sắp sang tuổi 50 rồi, liệu 20-25 năm nữa có ai dám chắc tụ họp được nữa hay không ?".
Các nhóm đang thảo luận
Bạch Dương với tính cách cô giáo nhẹ nhàng tâm sự: "Nói là đón các bạn về khách sạn ở, liệu mọi người có nghĩ là "khách khí" quá không, chi bằng chúng ta cứ đăng ký nam đón các bạn nam, nữ đón các bạn nữ về nhà ở cho vui và tình cảm hơn. Nhà Dương có thể đón được ít nhất hai người…

Nhóm chụp ảnh lưu niệm dưới tán tre xanh nhà Bạch Dương

Thế đó ! thật chân tình, thật tình bạn xưa. Hãy đến với nhau cho hiểu lòng nhau !
Hãy gặp nhau đi cho thêm thắm tình bạn cũ !

Phóng viên báo ảnh người Nhật bản đang tác nghiệp tại cuộc họp

Dưới đây là một vài tấm hình sẽ đi vào lịch sử của K16 khoa Pháp (số còn lại sẽ đăng vào Album)

   Bốn ca sĩ năm xưa đang hát "Làng tôi xanh bóng tre"

Bác sĩ Quốc Trung, từ bệnh viện Việt Pháp đến "chăm lo" sức khoẻ cho các thành viên cuộc họp

Bích Hằng đang ốm cũng đến họp, sau họp hết ốm luôn !

Phương Lan hào hứng nâng cốc chúc phóng viên nhà báo Nhật mà... !!

Bài và ảnh của Bancu-truongxua


[1]  - Chương trình và nội dung sẽ gửi qua mail để các bạn tham khảo và đóng góp ý kiến