dimanche 22 janvier 2012

CHÚC MỪNG XUÂN NHÂM THÌN - 2012

Thiệp chúc xuân tặng bạn

Năm Tân Mão vừa hết và năm Nhâm Thìn bắt đầu vừa tới, nhân lúc giao thừa, giờ tí đầu xuân, đón mừng nguyên đán, Xuân Trường vẫn lấy tục khai bút đầu xuân xin gửi những lời hay ý đẹp nhất từ đáy lòng mình tới bạn cùng gia đình.
Xin chúc bạn cùng toàn thể gia đình MẠNH KHOẺ - AN KHANG – TRÀN ĐẦY HẠNH PHÚC VÀ THÀNH CÔNG !

Nguyễn Văn Trường

CHÚC MỪNG XUÂN NHÂM THÌN - 2012

Các bạn thân mến,
Năm Tân Mão, năm của còn vật được bao gia đình Việt nuôi trong nhà, được các thế hệ từ già đến trẻ rất yêu quý. Tân Mão đã làm thoả lòng mong ước cho muôn gia đình Việt chúng ta, cho đất nước Việt Nam nhiều vận hội mới, và Tân Mão cũng đã mang đến cho cả tập thể K16 khoa Pháp chúng ta một cơ hội mới. Thật tuyệt vời !

Thời khắc giao thừa giữa năm Tân Mão và năm Nhâm Thìn chẳng còn mấy mươi phút nữa.

Năm Nhâm Thìn, năm của con vật linh thiêng, luôn là biểu tượng cho sức mạnh, quyền uy và cao quý sắp đến.
K16 khoa Pháp chúng ta hãy cùng nhau vui chúc một năm mới đầy tin vui và nhiều thắng lợi.

K16 khoa Pháp chúng ta cầu mong Nhâm Thìn sẽ mang đến cho muôn gia đình Việt và cả đại gia đình K16 khoa Pháp Sức khoẻ - An Khang - Hạnh phúc, Gia đình ấm êm, cháu con đỗ đạt !

Bancu - Truongxua



(Các bạn Clik vào hình để xem hình động)

vendredi 20 janvier 2012

TOÀN QUYỀN ĐÔNG DƯƠNG PAUL DOUMER VỚI VIỆC XÂY CẦU LONG BIÊN VÀ MỘT VÀI CÂY CẦU


Nhân số Xuân Nhâm Thìn - 2012, Tạp chí Xưa và Nay của Hội KHoa học Lịch sử đăng bài do tôi dịch. Tôi xin đăng lên để các bạn cùng đọc cho vui và hiểu thêm về cây cầu Long Biên Lịch sử mà trong chúng ta ai cũng có vài ba lần đi qua.

Cầu Long Biên, một cây cầu bằng thép bắc qua sông Hồng năm 1898 là một trong những cây cầu lớn nhất thế giới lúc bấy giờ. Nó không chỉ thể hiện sức mạnh về kinh tế mà nó còn là niềm kiêu hãnh về khoa học kỹ thuật hiện đại của người Pháp trên toàn cõi Đông Dương. Dưới thời Pháp thuộc cầu Long Biên còn có tên gọi là cầu Doumer, tên của viên Toàn quyền Đông Dương (Paul Doumer) có nhiệm kỳ tại Đông Dương đúng bằng thời gian xây dựng cầu (1897-1902).
Sang năm 2012, cây cầu này cũng bước sang tuổi thứ 110. Hơn một thế kỷ tồn tại, Cầu Long Biên có nửa số tuổi phục vụ hiệu quả cho công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp ở Đông Dương, và nửa số tuổi còn lại cầu Long Biên tồn tại như một huyết mạch giao thông nối liền thủ đô Hà Nội với các tỉnh phía Bắc và Đông Bắc của Việt Nam, nó đã đóng một vai trò không nhỏ trong công cuộc xây dựng đất nước và phát triển kinh tế của Việt Nam. Tuy nhiên vẫn còn nhều con số và thực tế liên quan đến cây cầu thế kỷ này khiến nhiều người quan tâm.
Để góp phần tìm hiều lịch sử cây cầu này, Nguyễn Văn Trường, Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp tại Hà Nội trích dịch từ cuốn hồi ký Đông Dương thuộc Pháp của Paul Doumer, in tại Paris, nhà xuất bản Vuibert & Nony, năm 1930 lấy tiêu đề: Toàn quyền Đông dương Paul Doumer về việc xây cầu Long Biên và một vài cây cầu ở Đông Dương.

Tác giả: Paul Doumer toàn quyền Đông Dương (1898-1902)
Nguyễn Văn Trường trích dịch từ cuốn Đông Dương thuộc Pháp, hồi ký của Paul Doumer,
in lần thứ 2 tại Paris, nhà xuất bản Vuibert & Nony, năm 1930.

[...]
Có một việc cần thiết phải làm ngay đối với tôi. Đó là xây một cây cầu lớn bắc qua Sông Hồng, phía chính diện Hà Nội. Con sông lớn này nằm ngang, rộng 1700 mét phân chia thành phố với các tỉnh bên tả ngạn. Lòng sông thường bị tắc ngẽn vì những bãi nổi bồi lên nhanh và lở đi cũng rất nhanh chóng theo dòng nước. Người bản xứ vượt qua sông này rất khó khăn, tốn kém, đôi khi rất nguy hiểm. Hai bên bờ sông, những điểm cập bến thay đổi theo mùa, thường xa đường giao thông và đường phố nên từ đó ra bờ sông khá vất vả. Đường sắt từ Lạng Sơn về Hà Nội cũng được xây dựng vào thời kỳ này, nhưng không có cầu nên tàu phải phải dừng lại ở bên kia bờ sông phía tả ngạn, cách sông Hồng ba cây số do dó rất xa thành phố Hà Nội, nơi đáng lẽ phải là điểm tận cùng của tuyến đường sắt này. Trong những điều kiện như vậy, việc giao thông thường là chậm, không thuận tiện và chi phí tương đối cao. Hơn nữa ý tưởng của tôi định xây dựng ở Bắc kỳ nhiều tuyến đường sắt quy tụ về Hà Nội và cũng từ Hà Nội có đường đi biển, đường đi Trung kỳ và đường đi Trung Quốc nhưng tôi không thể hình dung hệ thống đường sắt lại bị Sông Hồng phân đôi hai nửa.
Cầu Long Biên mùa nước cạn đầu thế kỷ

Như vậy lợi ích của việc xây cầu ở Hà Nội là rất rõ, không còn nghi ngại gì nhưng khả năng có làm được công trình này không, và có làm thì phải kéo theo một khoản tiền kếch sù, điều đó lại thật đáng nghi ngại. Những kẻ hoài nghi và chống đối ở cả Hà Nội và Paris có khá nhiều. Tôi phải vượt qua khó khăn là một khi việc nghiên cứu tiền khả thi đã xong thì phải đưa ra đấu thầu, và khởi công công trình là vì yếu tố con người, hay là vì yếu tố vật chất. Việc này phải được cân nhắc vì có những chỉ trích, những dèm pha ngay trong những công ty xây dựng mới hình thành, nhưng tôi không sợ những lẽ đó, không sợ thất bại và không nản chí. Với ý chí kiên trì và quyết tâm của tôi, cuối cùng cũng làm giảm đi nhanh chóng những ý tưởng chống đối .
Và rồi cuộc đấu thầu làm cầu Hà Nội mở ra năm 1897, có sự hiện diện của nhiều nhà xây dựng của Pháp. Dự án của nhà thầu Daydé và Pillé ở Creil (thành phố Oise) trúng thầu. Viên đá đầu tiên được đặt trong lễ khởi công công trình bắt đầu vào mùa khô - tháng chín năm 1898.
Đó không phải là một công trình tầm thường làm cho xong mà cây cầu Hà Nội đáng được dư luận thế giới chú ý vừa do tầm quan trọng của công trình, vừa do những khó khăn phải vượt qua. Dự án được thông qua và đề ra là phải thi công hoàn hảo, không chậm tiến độ và không được để xảy ra sự cố hay tai nạn. Gồm một cầu kim loại đặt trên những trụ và mố cầu xây. Chiều dài của cầu giữa hai mố cầu xây ở hai bên bờ là 1680 mét, gồm 19 nhịp vững chắc được tạo nên bằng những rầm thép kiểu rầm chìa, hai mươi trụ chống được xây, tất cả mố cầu và cột trụ có chân trụ chôn sâu ba mươi mét xuống lòng đất rắn tính từ mực nước thấp nhất của dòng sông Hồng, và cao hơn mực nước này mười ba mét rưỡi. Như vậy tổng chiều cao của các mố và trụ là bốn mươi ba mét rưỡi (43m50). Phần giữa cầu dọc theo các sườn chính là dành đường cho tàu hỏa chạy, phần đường bộ là phần nhô ra hai bên. Trên bờ hữu ngạn, phía trong thành phố Hà Nội, cầu được kéo dài bằng cầu cạn xây bằng gạch, dài tám trăm mét (800m), kể cả cầu cạn cầu Hà Nội có tổng chiều dài là hai nghìn năm trăm mét.
Đây là một trong những cây cầu lớn nhất thế giới, một công trình vĩ đại và đáng chú ý nhất cho tới nay được thi công ở Viễn Đông.
Đó là công trình của các kỹ sư, chuyên gia, đốc công cùng công nhân người Pháp và nhân công An Nam, nó làm nên vinh quang cho người lao động An Nam, các kỹ sư và kỹ thuật viên người Pháp. Quả đúng như thế, nhờ vào kết quả lao động của người thợ châu Á, nhiều người An Nam và có một số ít người Trung Quốc phụ giúp đã xây nên các mố, trụ cầu để một cây cầu bằng thép được dựng lên. Một phần của công trình được xây nên với vô vàn khó khăn chưa từng có ở một xứ như Bắc Kỳ, khí hậu khắc nghiệt, thời tiết đổi thay bất thường. Một phần công trình được tạo nên với các trụ đỡ bằng đá, mố ở hai bên bờ và các trụ ở các vị trí khác nhau trên mặt sông, móng cầu được những người thợ làm việc trong điều kiện phải dùng thùng khí nén, dưới độ sâu trung bình ba mươi hai mét tính từ mực nước thấp nhất trong mùa khô.
Cầu Long Biên đầu thế kỷ
Khi tôi đặt viên đá đầu tiên cho cây cầu Hà Nội vào tháng chín năm 1898, mố cầu bên tả ngạn đã được xếp bằng một phần đá thẳng hàng với các phần đá khác có cắm cờ, đánh dấu những vị trí xây trụ. Trong số người Pháp đến dự lễ khởi công hôm ấy, từ tướng Bichot, tổng tư lệnh quân đội và Đô đốc Beaumont, Tư lệnh hạm đội đến người lính thường; từ kỹ sư trưởng ngành cầu đường đến các giám sát viên công trình, rất nhiều người hoài nghi, không tin là công trình đồ sộ này có thể thực hiện được. Còn người bản xứ, khi được biết về dự án xây cầu, họ coi đây là một hành vi điên rồ - Bắc cầu qua sông Hồng ư ? - Sao rồ dại thế nhỉ ? chẳng khác nào chất núi này lên núi khác để leo lên trời. Một con sông rộng như một eo biển, sâu trên hai chục mét, vào mùa lũ (mùa mưa), mặt nước còn dâng lên cao tám mét nữa, dòng sông thì hay di chuyển, chỗ này bồi đắp, chỗ kía xói lở - một con sông như thế, sao có thể trị được ? Sao có thể chế ngự được mà bên trên lại xây cầu đặt trên những trụ đá xuyên sâu xuống nước ? Sao có thể chống chọi được với làn sóng hung dữ ?
Các vị quan lại dù có tư tưởng thông thoáng nhất, tinh thần cởi mở nhất cũng nghi ngờ quyết định táo bạo của chúng tôi. Họ nói:
 - Các ngài định chăng một dây cáp từ bờ bên này sang bờ bên kia để hướng dẫn tàu bè qua lại ?
- Không, chúng tôi định xây một cây cầu bằng thép và bằng đá bắc qua sông.
- Mặt sông quá rộng, cầu khó mà đứng vững được.
- Chúng tôi sẽ đỡ cầu bằng các trụ xây.
- Sông quá sâu để xây trụ.
- Chúng tôi có thể xây từ độ rất sâu.
 Cầu Doumer mua nước lũ chụp từ máy bay
Các vị quan lại lo lắng hỏi:
- Các ngài làm thật vậy sao ? Các ngài không sợ nếu chẳng may công trình thất bại sẽ gây ảnh hưởng xấu như thế nào với dân chúng ?
Chúng tôi trấn an họ, chúng tôi hứa công trình nhất định sẽ thành công, bằng cách nêu lên các phương tiện thi công rất hùng hậu.
Họ lại kêu lên:
- Không thể làm được ! và hạ giọng nói nhỏ đó là một việc hết sức rồ dại.
Mấy tháng sau, chỉ đến lúc thấy các trụ cầu nhô lên khỏi mặt nước, các nhịp cầu bằng thép bắt đầu được xây lắp các vị quan hoài nghi ấy mới chịu thán phục. Họ nói :
- Thật là kỳ diệu! người Pháp có thể làm mọi thứ họ muốn.
Câu nói này lan truyền trong dân chúng. Người Pháp nhất định là mạnh, là thông thái hơn người ta tưởng. Từ lâu người ta chỉ biết những gì mà người Pháp đã làm trong chiến tranh. Bây giờ người ta mới thấy người Pháp làm những điều không kém hơn trong sự nghiệp hòa bình. Họ đã chứng tỏ họ mạnh trong việc phá, nay người ta lại thấy họ cũng mạnh không kém trong việc xây.
Người ta liên tục tò mò hỏi những người thợ của công ty xây dựng vì thấy họ làm việc phải thở tự do trong các thùng ép hơi kín bằng sắt như trên một con tàu, xây được đến đâu thùng kín chìm sâu dần dưới nước đến đó, rồi làm việc thở bằng khí nén trong thùng ép hơi kín để đào đất dưới lòng sông, rồi chôn phần đã xây sâu xuống nước. Và các thùng hơi kín mít ấy cứ chìm mỗi ngày mỗi sâu xuống dưới nước. Các thùng ép hơi đã ở độ sâu hai mươi mét dưới mặt nước, phải chịu áp lực hai át-mốt-phe, rồi sâu xuống hai mươi nhăm mét, ba mươi mét, áp lực rất lớn đã lên tới ba át-mốt-phe, rồi sâu thêm nữa đến ba mươi mốt, ba mươi hai mét, đôi khi ba mươi ba mét, ở độ sâu này điều kiện làm việc cực kỳ nặng nhọc. Những người thợ An Nam thân hình bé nhỏ song làm việc ở độ sâu như thế mà không sợ, không một lời phản kháng. Họ tự hào về điều đó, khi họ được kéo lên bờ, dân chúng xúm quanh tỏ lời thán phục, đồng thời cũng thèm thuồng đồng lương rất cao của họ kiếm được. Nhà thầu cầu tổ chức và chỉ đạo thi công hết sức tốt, biết chăm sóc chu đáo công nhân, làm họ gắn bó với công ty. Các kíp thợ làm việc trong điều kiện thở bằng mặt nạ chỉ làm việc bốn tiếng một ca. Sau đó họ được đưa lên cạn để kíp khác xuống thay thế. Khi lên cạn, họ được đưa vào lều nghỉ ngơi, được bồi dưỡng thuốc bổ, được xoa bóp và có bác sĩ đến thăm khám sức khỏe nếu cần. Cách đối xử ân cần như thế thật quá sức tưởng tượng càng tăng thêm uy tín cho nhà thầu. Nhân công lao động đua nhau kéo đến để nộp đơn xin được tuyển dụng vào làm việc xây cầu.
Công việc xây dựng cây cầu Hà Nôi được tiến hành với những phương tiện hện đại, những cố gắng không ngừng đáng được ghi nhận. Các hàng trụ cầu hoàn thành đến đâu, những rầm thép được đưa từ Pháp về kịp thời đến đấy và được lắp ráp ngay. Người ta trông thấy cây cầu tiến dần từng ngày trên sông. Lại chính những người bản xứ đã ghép những tấm kim loại, vận hành máy nâng có công suất lớn, tra các đinh tán (ri-vê). Ban đầu, người ta dùng nhân công Trung Quốc để tán đinh vì họ khoẻ hơn người An Nam, nhưng dần dần người An Nam đã thay thế họ. Tuy người An Nam không khỏe bằng người Trung Quốc nhưng họ tích cực và khéo léo hơn nên có hiệu suất cao hơn. Các kỹ sư Pháp ưa thích người thợ An Nam hơn.
Sau ba năm khởi công, cây cầu khổng lồ đã hoàn thành. Nhìn gần, bộ sườn cầu bằng thép trông thật vĩ đại. Chiều dài của cây cầu tưởng như vô tận. Nhưng từ dưới sông nhìn lên cây cầu trong bức tranh toàn cảnh tổng thể thì nó chỉ như một cái lưới mắt cáo thanh thoát, một dải đăng-ten giăng giữa trời. Dải đăng-ten bằng thép ấy đáng giá một món tiền nhỏ là sáu triệu phờ-răng (francs).
Việc xây dựng cầu Hà Nội, người ta đã có nhã ý lấy tên tôi để đặt cho cầu, điều ấy muốn nhấn mạnh vào trí tưởng tượng của người dân bản xứ. Những cách thức làm việc sáng tạo và tài giỏi được sử dụng, những kết quả thu được đã làm họ có ý thức về sức mạnh hào hiệp của nền văn minh Pháp. Điều tài tình của khoa học kỹ thuật, sức mạnh công nghiệp của chúng ta bây giờ đã chinh phục tinh thần dân chúng ở xứ này thay vì trước đây chúng ta phải quy phục họ bằng tiếng súng.
Tôi đã khánh thành cầu Hà Nội, cây cầu Doumer với tên của tôi được đặt vào tháng 2 năm 1902, cùng lúc với đoạn đầu tiên của hệ thống đường sắt Đông Dương. Từ đây tuyến đường sắt Hải Phòng – Hà Nội, nối thủ đô với biển đã được đưa vào khai thác. Chuyến tàu đầu tiên đã đi vào thành phố, tàu qua cầu và đã vươt trên 100 km đường sắt để chính thức khai trương tuyến đường. Và cũng chính tuyến đường này đưa tôi trở về Pháp sau khi kết thúc nhiệm kỳ của tôi ở Đông Dương.
Paul Doumer Toàn quyền Đông Dương (1898-1902)
Tôi rất hài lòng được thấy xứ Bắc Kỳ 5 năm trước còn nghèo khó, run sợ, nhút nhát, nay đã biến đổi như thay da đổi thịt thành một miền đất có hòa bình, giàu hơn. Hà Nội đã trở thành một thủ đô to lớn và xinh đẹp với những tượng đài, những tòa nhà theo phong cách châu Âu đã và đang mọc lên từng ngày với một nhịp độ phát triển phi thường. Bản thân người An Nam hình như không chịu đứng ngoài cuộc, tham gia cuộc chơi đến cùng. Nhà gạch của người An Nam mọc lên san sát, ngày một nhiều trên các đường phố. Trong khoảng thời gian từ 1898 đến 1902, trên toàn xứ Bắc Kỳ, đặc biệt là Hà Nội, đâu đâu cũng hoạt động miệt mài, không mệt mỏi trên tất cả các mặt của đời sống. Dân số thành phố tăng nhanh: từ ba chục nghìn dân năm 1897, đến năm 1902 ước tính có một trăm hai mươi nghìn dân. Số kiều dân Pháp sống ở Hà Nội đã tăng lên với một tỷ lệ ít nhất cũng bằng nhịp độ tăng số dân thành phố.
Trong một đất nước như Ấn Độ-China (Đông Dương), nơi có nhiều con sông lớn, nhỏ chảy qua, thì số lượng và tầm quan trọng của những cây cầu phải xây dựng là rất lớn. Đó chính là nguyên nhân khiến chi phí cho việc xây dựng các tuyến đường sắt ở các vùng châu thổ tăng cao. Đây là khoản chi lớn nhất về xây dựng đường bộ vốn không đòi hỏi nhiều nỗ lực và hy sinh của những người thợ đào đất như người An Nam và đường bộ hoàn toàn không phải là những công trình nghệ thuật.
Trong cùng thời gian quyết định xây dựng cầu Hà Nội vào năm 1897, tôi cũng quyết định xây môt cây cầu khác có kich thước nhỏ hơn nhưng có công dụng lớn trên sông Huế. Trên chiếc cầu này không có phần dành cho đường sắt, nối thành phố nơi đông đúc người bản xứ Huế, Thành nội, Hoàng cung và các cơ quan hành chính An Nam, tất cả bên tả ngạn với thành phố khu có người Pháp ở và nối với con đường đi Đà Nẵng (Tourane) bên hữu ngạn sông Huế. Bởi lẽ từ năm 1897, ở Huế đã lập thành phố Pháp, nhìn bên ngoài rất đẹp và đang không ngừng mở rộng. Một vài toà nhà rải rác mà tôi đã nhìn thấy lúc tôi rời tàu biển lên đất liền để đến Huế lần đầu tiên đã khuất trong nhiều công trình xây dựng. Chiếc cầu trên sông Huế đã góp phần đem lại sinh khí cho thủ đô của An Nam.

Cầu Tràng Tiền bắc qua Sông Hương (Huế)
Đương nhiên cầu Huế được xây dựng nhanh hơn cầu Hà Nội. Cầu chỉ dài 400 mét, độ sâu của móng trụ không quá 20 mét và chỉ chịu được trọng tải của các xe ô-tô và người đi bộ. Chính là công ty Creusot của Pháp đã thầu thi công cây cầu này.
Chúng tôi đã khánh thành cây cầu vào năm 1900. Cây cầu này được mang tên là cầu Thành Thái tên của nhà vua đã cắt dải băng tượng trưng để cho dân chúng dễ dàng qua lại. Việc làm này thực sự đã đem lại niềm vui cho người An Nam sinh sống ở đây.
Năm 1897 cũng diễn ra cuộc đấu thầu một công trình lớn khác. Đó là xây thêm cây cầu thứ ba, bắc qua sông Sài Gòn mở một đường bộ từ Sài Gòn đi Biên Hoà và có cả phần đường dành cho xe điện. Việc xây dựng đường sắt nối Nam Kỳ với Trung Kỳ đã làm thay đổi kế hoạch ban đầu, phải gia cố công trình cầu Sài Gòn, tăng sức chịu lực của cầu cho đường sắt và tàu hỏa qua cầu. Mặc dù những khó khăn ngoài dự kiến trong việc đào hố trôn trụ cầu, có vài trụ phải chôn sâu tới 31 mét kể từ mực nước thấp nhất của dòng sông. Cây cầu được gọi là cầu Bình Lợi, do công ty Levallois-Perret trúng thầu xây dựng đã làm xong và khánh thành vào tháng 2 năm 1902 trước khi hoàn thành tuyến đường sắt qua sông trên chiếc cầu đó. Cầu Bình Lợi gồm 6 nhịp kim loại, trong đó có một nhịp dài 40 mét có thể quay ngang để tàu thủy qua lại được.
Một đầu cầu Sài Gòn (ảnh: Bộ Lưu trữ Hải ngoại)
Có lẽ bạn đọc sẽ thấy nhàm chán nếu tôi kể ra tất cả các công trình thuộc loại này được thực hiện ở Đông Dương từ 1897 đến 1902. Đối với thuộc địa, đó là thời đại của sắt thép, thời đại của cầu. Ngoài những cây cầu xây cho đường bộ, hệ thống đường sắt còn đòi hỏi phải có hàng trăm cầu nữa, trong số đó có một vài cầu cần được đặc biệt chú ý. Ở Bắc Kỳ, cầu Hải Phòng, cầu Hải Dương, cầu Việt Trì, cầu Lào Cai xứng đáng được nêu tên.
H.1
H.1-2 - Cầu Hàm Rồng bắc qua sôn Mã, tỉnh Thanh Hoá, Trung kỳ
Ở Trung Kỳ có cầu Thanh Hóa, cũng như cầu lớn Hà Nội và nhìều cầu khác ở Đông Dương đều do công ty Daydé và Pillé thi công. Cầu Thanh Hóa chỉ gồm một nhịp vòm, sải dài 160 mét bắc qua sông ở chỗ rất hẹp, lòng sông rất sâu không cho phép đào hố chôn trụ đỡ. Việc lao rầm đã phải tiến hành ở thế chênh vênh trong những điều kiện đặc biệt khó khăn và nguy hiểm.
Bìa Tạp chí Xưa và Nay số Xuân 2012

NVT

vendredi 30 décembre 2011

CHÚC MỪNG NĂM MỚI - 2012

Nhân dịp năm mới 2012, Bancu-truongxua xin chúc các bạn và gia đình
MẠNH KHOẺ VÀ AN KHANG THỊNH VƯỢNG !


Nguyễn Văn Trường xin gửi tới các bạn đồng khoá lời chúc
Một năm mới VUI VẺ - MẠNH KHOẺ - HẠNH PHÚCNHIỀU THÀNH CÔNG !

Bancu-truongxua
31-12-2011


vendredi 23 décembre 2011

NGẮM PARIS VỀ ĐÊM

Click vào Đây để xem (muốn xem hình to hơn ấn nút F11)

jeudi 15 décembre 2011

GẶP MẶT LẦN HAI TẠI HÀ NỘI


Sau khi ý tưởng "Họp mặt toàn thể K16 khoa Pháp" của chúng ta được khởi xướng ở nhà Bích Hằng hôm 29-10 và Thư hẹn ngày gặp mặt được đăng trên báo Bancu-Truongxua, chúng tôi nhận được rất nhiều tin nhắn qua e-mail, điện thoại tỏ ý tán đồng và nóng lòng chờ đợi ngày vui gặp mặt ấy. Rất nhiều bạn còn mong ngày đó đến sớm hơn. Bạn Lý từ Hạ Long đề nghị nên gặp nhau từ chiều và tối hôm trước. Bạn Hạnh (Hưng Yên), bạn Thạch (Năm Định) cũng nói đang cố gắng sắp xếp để đến ngày đó không vì lý do gì mà không lên gặp nhau.
Nhóm 10 người đang công tác và sinh sống tại Hà Nội cũng với một quyết tâm rất cao là đã hẹn nhau họp ở nhà Bạch Dương hôm chủ nhật ngày 11 tháng 12 vừa qua, từ 10giờ 30 đến hơn 15 giờ.
Trong gần 5 tiếng đồng hồ gặp nhau, cả nhóm đã "ôn cố tri tân", nói chuyện rôm rả, rất nhiều lần trưởng nhóm (Trường tự xưng chưa ai bầu, ha, ha !!) phải ra vẻ nghiêm chỉnh lắm mới kéo được mọi người đi đúng "quỹ đạo" cuộc họp. Tại đây cả nhóm đã đưa ra nhiều ý tưởng, bàn thảo nội dung và chương trình cho buổi gặp mặt chính của chúng ta[1]. Tất cả đều háo hức mong đợi đến ngày đó. Phương Lan có vẻ lo xa và sợ bỏ lỡ cơ hội này nên thật lòng nói: "Anh T. phải thông báo hay viết rằng đây là cơ hội hiếm có 25 năm mới gặp lại nhau, chứ trăm lần hỏi thăm, không bằng một lần thấy đâu". Phương Lan lại nói: "Chúng ta sắp sang tuổi 50 rồi, liệu 20-25 năm nữa có ai dám chắc tụ họp được nữa hay không ?".
Các nhóm đang thảo luận
Bạch Dương với tính cách cô giáo nhẹ nhàng tâm sự: "Nói là đón các bạn về khách sạn ở, liệu mọi người có nghĩ là "khách khí" quá không, chi bằng chúng ta cứ đăng ký nam đón các bạn nam, nữ đón các bạn nữ về nhà ở cho vui và tình cảm hơn. Nhà Dương có thể đón được ít nhất hai người…

Nhóm chụp ảnh lưu niệm dưới tán tre xanh nhà Bạch Dương

Thế đó ! thật chân tình, thật tình bạn xưa. Hãy đến với nhau cho hiểu lòng nhau !
Hãy gặp nhau đi cho thêm thắm tình bạn cũ !

Phóng viên báo ảnh người Nhật bản đang tác nghiệp tại cuộc họp

Dưới đây là một vài tấm hình sẽ đi vào lịch sử của K16 khoa Pháp (số còn lại sẽ đăng vào Album)

   Bốn ca sĩ năm xưa đang hát "Làng tôi xanh bóng tre"

Bác sĩ Quốc Trung, từ bệnh viện Việt Pháp đến "chăm lo" sức khoẻ cho các thành viên cuộc họp

Bích Hằng đang ốm cũng đến họp, sau họp hết ốm luôn !

Phương Lan hào hứng nâng cốc chúc phóng viên nhà báo Nhật mà... !!

Bài và ảnh của Bancu-truongxua


[1]  - Chương trình và nội dung sẽ gửi qua mail để các bạn tham khảo và đóng góp ý kiến

lundi 12 décembre 2011

HOA CHIA BUỒN

CỦA HỘI SINH VIÊN K16
VÀ BÁO BẠN CŨ- TRƯỜNG XƯA K16 KHOA PHÁP

Nhận được tin nhạc mẫu của bạn Đoàn Ngọc Thạch là cụ bà Chu Thị Tý từ trần ngày 10 tháng 12 năm 2011 tại thành phố Nam Định, hưởng thọ 93 tuổi.
Hội sinh viên K16 Khoa Pháp, Trường ĐHSP Ngoại ngữ Hà Nội và Báo Bạn cũ–Trường xưa K16 khoa Pháp, từ phương xa xin cúi đầu mặc niệm, thành kính chia buồn tới bạn Đoàn Ngọc Thạch và toàn thể tang quyến.
Chúng tôi mong rằng sự đau buồn mau chóng qua đi, gia đình bạn sớm ổn định trước những tổn thất lớn lao này !


Hội sinh viên K16 Khoa Pháp
và Báo Bạn cũ–Trường xưa K16 khoa Pháp

dimanche 27 novembre 2011

THÔNG TIN KHOA PHÁP

Để chuẩn bị tổ chức tốt Lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập khoa, Ban Chủ nhiệm khoa Pháp đã mời đại diện các khoá về họp mặt tại văn phòng khoa sáng ngày 19 tháng 11 vừa qua.
Về dự họp có khá nhiều thế hệ sinh viên, từ khoá I đến khoá mới ra trường. Có cả các thầy, cô đã về hưu và đang công tác tại khoa cũng về dự với tư cách là một cựu sinh viên của khoa Pháp.
Thay mặt Ban chủ nhiệm Khoa Pháp, anh Trịnh Đức Thái, đang là Trưởng khoa Pháp và là cựu sinh viên K13 vui mừng phát biểu: "Đây là lần đầu tiên Khoa Pháp tổ chức một cuộc họp có đông đủ các thế hệ sinh viên về dự. Mục đích của cuộc họp là lấy ý kiến đóng góp của các thầy cô và tất cả các thế hệ sinh viên xây dựng nội dung Lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập khoa Pháp sẽ tổ chức năm 2012".
Tại cuộc họp, đại diện các thế hệ sinh viên đã xúc động tâm sự và phát biểu chân tình, cởi mở với tất cả tấm lòng yêu mến, hướng về ngày đại lễ và hướng về khoa Pháp thân yêu của mình. Cuối buổi họp, Ban chủ nhiệm khoa Pháp đã có được một nội dung phác thảo với nhiều ý kiến đóng góp có ý nghĩa và giá trị. Tất cả các sinh viên có mặt đều nhất trí cần phải làm ngay từ bây giờ công tác truyền thông. Với công tác này đã bầu ra thầy Trần Hùng, đại diện sinh viên khoá III phụ trách tập Kỷ yếu Tạp chí. Thầy Oánh, đang là Giám đốc trung tâm Nghiên cứu ứng dụng CNTT vào dạy và học ngoại ngữ (TT Multimedia) của trường phụ trách việc mở và quản lý trang thông tin điện tử. Trong lúc toàn thể đang trao đổi, bàn thảo về việc mở và quản lý trang điện tử, một đại diện K22 vui mừng xung phong xin nhận giúp đỡ khoa về thủ tục và tài trợ toàn bộ tài chính "nuôi" trang thông tin điện tử tồn tại và phát triển tốt trong 5 năm liền.
Sau buổi họp mặt tại văn phòng khoa, tất cả đại diện sinh viên các khoá được mời dự liên hoan thân mật nhân Ngày nhà giáo Việt Nam (20-11), do Khoa Pháp tổ chức tại Hội Trường Vũ Đình Liên[1].

Cô Thư đang trình diễn một tiết mục văn nghệ

Đại diện sinh viên các khoá đang nói chuyện thân mật trong giờ nghỉ
Rất tiếc K16 khoa Pháp của chúng ta chưa cử đại diện chính thức, nhưng Ban chủ nhiệm khoa đang có sẵn điện thoại và địa chỉ liên lạc của tôi và bạn Huy nên đã trực tiếp mời chúng tôi. Tôi và bạn Huy mạnh dạn đảm nhận quyền đại diện đến dự và đã phát biểu tại cuộc họp. Theo chúng tôi, đây là dịp hiếm có để gặp lại các thầy cô và thăm lại khoa Pháp, nơi chúng ta học tập. Tôi cũng đã gặp và chụp ảnh với thầy Bùi Ngọc Oánh (chủ nhiệm năm thứ nhât), cô Đào Thị Thư (chủ nhiệm năm thứ 2), thầy Canh Tân (năm thứ 3); nói chuyện và trao đổi nhiều với thầy Tráng, thầy Trần Hùng và thầy Trường… Cuộc họp mặt thật vui ! và thật thú vị !
Từ phải sang: Cô Thư, thầy Canh Tân, thầy Oánh, Trường

Thầy Oánh làm giám khảo cuộc thi ẩm thực

NVT - K16 Khoa Pháp



[1] Hội trường lớn nằm phía tây của khu giảng đường Khoa Pháp, nơi đây, ngày xưa hay diễn ra hội, họp, chiếu phim nhân các ngày lễ lớn. Hội trường này mới được mang tên NGND Vũ Đình Liên, trưởng khoa đầu tiên của Khoa Pháp.

jeudi 24 novembre 2011

Thư hẹn ngày gặp mặt


Hà Nội, ngày 24 tháng 11 năm 2011

Các bạn thân mến,
Năm năm sống cùng nội trú và học tập cùng nhau dưới một mái trường, chúng ta có biết bao kỷ niệm khó quên và biết bao điều tâm sự muốn nói.
Năm năm học cùng nhau, có ai dám chắc không có những câu chuyện còn đang dang dở và cả những cái nhìn lúng liếng, tình tứ mà chưa kịp nói những lời yêu đương của ai đó trong chúng ta thì đã phải ra trường ?
Cuộc chia tay bịn rịn mà rất vui ngày ấy lùi xa vào quá khứ đã 25 năm rồi. Một phần tư thế kỷ không phải ngắn ngủi, và lại càng quá dài lâu so nó với một đời người. Nhiều người trong chúng ta chưa có dịp trở lại trường xưa, chưa một lần gặp lại bạn cũ. Cả khóa chúng ta chưa có một lần gặp mặt đông đủ để ôn lại những kỷ niệm đã qua của một thời sinh viên khốn khó mà ai cũng rất vui tươi, hồn nhiên và yêu đời.
Thật vui ! thật xúc cảm biết bao ! nếu tất cả chúng ta hẹn ngày trở lại, được gặp nhau để khoe những đổi thay của mỗi người; để lần theo những dấu tích khu nội trú mái lá, vách cót năm xưa; để lặng yên ngắm hàng liễu rủ bên hồ và để được ngồi bên nhau trên ghế đá dưới khung trời lãng mạn giảng đường Khoa Pháp, nơi chúng ta từng học tập. Đó là nguyện ước của đông đảo tất cả chúng ta.
Các bạn K16 Pháp ơi, hãy gặp nhau nhé, hãy về khoa Pháp của mình nhé !
Năm tới 2012 sẽ là một mốc son đánh dấu tròn 30 năm ngày nhập trường và 25 năm ngày ra trường của K16 chúng ta. Thật ý nghĩa biết bao ! 2012 cũng là năm sinh nhật  tròn 50 tuổi của khoa Pháp mà chúng ta đang ở độ "Trung niên".
Bancu – truongxua K16 khoa Pháp xin định ngày chủ nhật, 26 tháng 2 năm 2012 (tức ngày 5 tháng 2 Nhâm Thìn), chắc các bạn đồng khoá là giáo viên cũng chưa bận lắm vì công việc cuối kỳ, cuối năm học. Các bạn công tác trên lĩnh vực khác cũng có thể rỗi rãi sau những ngày xuân đẹp đẽ.
Bancu – truongxua tin rằng ngày về này sẽ thoả lòng mong ước bấy lâu nay của tất cả chúng ta, và sẽ để lại một ấn tượng đẹp đẽ nhất trong cuộc sống mới sau giảng đường đại học.
Chào bạn nhé, hẹn gặp lại ngày về !

Bạn cũ – trường xưa K16 Khoa Pháp

samedi 19 novembre 2011

NHỮNG TẤM ẢNH ĐI VÀO LỊCH SỬ (tiếp theo 3)

Trong những năm của thập niên tám mươi, hầu hết ảnh được chụp là ảnh đen-trắng, nước ảnh đục mờ mà các bạn đã từng được ngắm nghía đến mê người ở những trang trước. Còn hôm nay, sau gần 30 năm, các bạn bắt gặp lại một tấm ảnh màu xuất hiện lẫn trong tập hợp ảnh đen – trắng ấy thì chắc các bạn cũng giống tôi không khỏi tò mò tự hỏi: Đó là tác phẩm của “nhiếp ảnh gia” nào ? và chup  bao giờ ?

Những người được cho là "Tay chơi" mới dám chụp ảnh màu thời đó
và thời đó ảnh màu cũng là "hiện tượng lạ"
Với hiện tượng lạ này tôi đã bắt đầu phân tích:
- Thời gian tấm ảnh, bắt đầu từ nội dung bài học được trình bày ở tấm bảng đen (phía sau mọi người trong tấm ảnh) là Comparaison de deux systèmes d’enseignement: au Vietnam et en Frnace. Phần học này thuộc Dossier V – 2. Informations bài “Le système éducatif de France” trong giáo trình Intercodes 2 – Livre d'Exercices (tr.46). Tôi còn nhớ, năm đó là năm thứ hai (1983-1984), sau bài giảng trên lớp, bài tập cô ra bắt buộc là bất cứ ai cũng phải vẽ được hai hệ thống giáo dục ở Việt Nam và ở Pháp, và trình bày sự khác biệt giữa hai hệ thống giảng dạy ở hai nước.
- Về tác giả, năm thứ hai, K16 bắt đầu học chuyên gia người Pháp. Đó là đôi vợ chồng trẻ người Pháp (tôi không nhớ tên, nhưng không phải vợ chồng G.s Baraff et Claudine). Chuyên gia Pháp có chức năng dạy nói, chỉnh phát âm và dạy bổ trợ các kiến thức xã hội pháp. Trong ảnh chúng ta thấy có mặt cô Phương và các bạn lớp A mà ảnh được chụp tại bục giảng của lớp thì không còn nghi ngờ gì nữa đó là "tác phẩm" của vị chuyên gia người Pháp dạy lớp A ngay sau giờ học. Lúc bấy giờ người Việt ở Hà Nội cũng đã có ảnh màu, nhưng còn ít lắm. Người Pháp có phim và máy ảnh màu phổ thông sớm hơn chúng ta là chuyện bình thường và dễ hiểu.
Như vậy Bancu-truongxua có thể đưa ra thời gian ảnh được chụp khoảng đầu năm 1984 (vì bài học ở chương V – Intercodes2). Tác giả là của chuyên gia người Pháp dạy lớp A, năm thứ hai.
Nếu bạn nào biết rõ hơn về thời gian và tên tác giả của tấm ảnh màu này xin cho biết thêm.
Bên cạnh tấm ảnh màu lạ nêu ở trên là những tấm ảnh khác trông quen quen nhưng có những điểm khác biệt, có thể tác giả, hoặc một số nhân vật trong ảnh đã cố ý đổi chỗ để "được gần ai đó" có thêm nhiều kỷ niệm riêng.
25-4-1987, ảnh chụp kỷ niệm ngày chia tay bế giảng K16

Như đang trình diễn bài "Năm anh em trên một chiếc xe tăng" ấy nhỉ

25-4-1987 mấy anh chị có vẻ bịn rịn, lưu luyến nhau thế !

25-4-1987, nhóm nội trú chụp ảnh lưu niệm
tại cầu thang giảng đường khoa Pháp
Dũng và Trường dạo chơi phố phường Hà Nội cùng người bạn Pháp
ảnh chụp cuối năm 1991

Hai tấm ảnh của Khoa Pháp tổ chức đi rừng Cúc Phương có rất nhiều khoá cùng đi với nhau. Các bạn K16 cố gắng nhận ra mình nhé.
Cổng vào rừng nguyên sinh Cúc Phương

Khoa Pháp dưới tán cây Chò ngàn năm
trong khu rừng nguyên sinh Cúc Phương

Một số ảnh K16 và K17 đia Chùa Dâu sau khi ra trường


Bancu - truongxua

vendredi 18 novembre 2011

NHỮNG TẤM ẢNH ĐI VÀO LỊCH SỬ (tiếp theo 2)

NHỮNG TẤM ẢNH ĐI VÀO LỊCH SỬ (tiếp theo 1)
NHỮNG TẤM ẢNH ĐI VÀO LỊCH SỬ

Một sê-ri ảnh mà Nguyễn Văn Trường lưu giữ và cho đăng lần này là những tấm ảnh của đợt kiến tập tại Trường THPT Phú Xuyên (năm thứ tư, ảnh ghi mặt sau ngày 15 tháng 3 năm 1986) và một số ảnh khác chụp chung hai nhóm tiếng Pháp do cô Vân Dung và tiếng Anh do cô Hoa hướng dẫn thực tập tại Trường THPT Hoàng Diệu (năm thứ năm, tháng 3 năm 1987).

Nhóm thực tập sinh Phú Xuyên (15-3-1986)

Nhóm thực tập sinh Phú Xuyên với thầy Lanh, dạy văn chủ nhiệm lớp (15-3-1986)

Nhóm thực tập sinh Phú Xuyên với lớp 8H (15-3-1986)

Cô Vân Dung thứ hai (từ trái sang) với nhóm thực tập Trường Hoàng Diệu

Nhóm thực tập Pháp và Anh chụp chung
Cô Vân Dung thứ hai (từ trái sang)
Cô Hoa (ngoài cùng bên phải)
Giờ đây tuy không làm công tác giảng dạy nhưng trong tôi vẫn còn bao kỷ niệm về những buổi đầu tiên chập chững học nghề làm thầy - cái nghề mà tôi đã từng ước mơ.
Một số ảnh dưới đây sẽ cho chúng ta biết phần nào cảnh sinh hoạt rất thực và sống động của các bạn sinh viên nội trú. Với những chiếc giường rất "đặc trưng nội trú" của thời bao cấp, một hình thức tổ chức sinh nhật rất phổ biến lúc bầy giờ. Vì khoa Pháp có ít sinh viên nên các bạn khoá trước ở cùng phòng với khoá sau, sinh nhật một người thì không khí vui vẻ và sôi động như sinh nhật của cả phòng.

K16 đứng, K17 ngồi

Phòng sinh viên thời bao cấp

K16-K17 chung vui sinh nhật tại phòng sinh viên

Tinh thần của lễ sinh nhật vui vẻ và vô tư

Các bạn trai trường khác đến dự

Đâu cứ phải quà cáp cao sang

Một bạn trai ngoại trú cũng "gậm nhấm" ra phết

Hai bạn thân cùng lớp

Thực sự đó là những tấm ảnh tư liệu quý giá, đánh dấu một thời sinh viên khốn khó nhưng rất vui, vô tư và hồn nhiên. Nếu ai đó có ý tưởng mở cuộc triển lãm ảnh sinh viên nội trú, giống như cuộc triển lãm ảnh "Thời bao cấp" ở Bảo tàng Dân tộc học thì đây là một Collection đại diện của K16 chúng tôi.

Bancu-truongxua
NVT